Chương-trình Văn-Học Nghệ-Thuật về luận-án tốt-nghiệp Thạc-sĩ (Cao-học) của sinh-viên Trần Thị Như Ngọc với đề-tài “Thơ Du Tử Lê dưới Góc Nhìn Tư-Duy Nghệ-Thuật” tại Đại-học Quốc-gia Hà Nội, trường Đại-Học Khoa-Học Xã-Hội và Nhân-Văn.
Nhịp Cầu
Kính gởi BBT/Du Tử Lê
Chúng tôi có dự chiều nhạc thính phòng “Tình Ca Đăng Khánh”. Nghe chuyện bên lề thật cảm động, được biết có rất nhiều nhóm ở xa nơi diễn từ 2,3 tiếng xe, và có cả một nhóm bác sĩ ở tận bên Arizona đi mấy chiếc xe riêng từ 4 giờ sáng vội về Cali cho kịp giờ trình diễn. -Chắc đã có nhiều bài viết chi tiết về sự thành công của chiều nhạc thính phòng “Tình Ca Đăng Khánh”, chúng tôi chỉ có một vài suy nghĩ liên quan đến bài thơ “K. Khúc Của Lê” do nhạc sĩ Đăng Khánh phổ nhạc gởi đến quý BBT.
Chân thành cảm tạ. (Chu Trọng Ngư)
1.
Chúng tôi đã nghe bài “Trước Khi Thành Quá Muộn” cũng của Khoa Nguyễn, KN đã cố sắp xếp cho cân đối với cấu trúc bên nhạc nên đành bỏ bớt những câu thơ khó phổ, và thay vì tạo một đoạn thơ mới, KN đã chọn cách lặp lại một đoạn thơ đã có sẵn cho an toàn.
Hình như hiểu được sự khó khăn của người phổ nhạc nên chiều lòng họ, bài thơ “Tôi Thấy Dòng Sông Trong Mắt Em” đã được thi sĩ cố gắng sắp xếp sao cho nó có hình thức đúng với cấu trúc của bên nhạc (A/A’/B/A/A’).
Chưa hết, đọc kỹ bài thơ ta thấy thi sĩ còn cố gắng sắp xếp cả những âm bằng trắc cho các câu thơ hầu như giống hệt nhau.
Và ông còn cẩn thận cả những chữ ở cuối mỗi câu thơ sao cho các âm bằng trắc khớp với mỗi điểm dừng của từng chi câu nhạc.
Chỉ duy nhất chữ cuối cùng của bài thơ “cùng”, ông chọn cho nó có vần bằng với dấu huyền, là điều cần thiết để tạo cho bản nhạc đi đến chỗ kết thúc một cách dễ dàng hơn.
em em em em em
gương quen đông câm đen
gió khế cũ Huế xót
đêm xin chuông xang “cùng”
Có lẽ, nếu ai định phổ nhạc cho bài thơ trên với cung Trưởng thì còn thấy dễ dàng chứ nếu cứ nhất định muốn nó cũng ở cung Thứ như KN thì:
(Nhiều phần giai điệu sẽ bị trùng với nhiều câu nhạc của KN, do những yếu tố đã được định sẵn kể trên, mà nhà thơ hầu như cũng đã ngầm gợi ý, khơi mạch cho người phổ nhạc rồi…)
2.
Tham dự chiều nhạc thính phòng “Tình Ca Đăng Khánh” tôi chỉ chuẩn bị có hai ca khúc “Em Ngủ Trong Một Mùa Đông” và “Lệ Buồn Nhớ Mi”, đều phổ từ thơ của thi sĩ Du Tử Lê.
Chỉ đến khi ca sĩ Tuấn Ngọc hát lại lần thứ nhì bản nhạc phổ “K. Khúc Của Lê”, tôi mới nhớ thêm được một bài thơ nữa cũng của thi sĩ Du Tử Lê. (chữ thẳng là thơ của thi sĩ Du Tử Lê, chữ nghiêng là của nhạc sĩ Đăng Khánh).
Đoạn A
Tôi xa người như xa núi sông/ Em bên kia suối bên kia rừng
Em bên kia nắng bên kia gió/ Tôi một dòng sương lên mênh mông.
Đoạn A
Tôi xa người như xa biển đông/ Chiều dâng lai láng chiều giăng hàng
Những cây ghi dấu ngày em đến/ Đã chết từ đêm mưa không sang.
Đoạn B
Tôi xa người xa hơi thuốc cay/ Ngày mai tình sẽ bỏ tim này
Chiều em không tới hàng cây cũng đã/ Nghiêng xuống tôi từng ngọn heo may.
Đoạn B’
Tôi xa người như xa biển đông/ Như xa núi sông em bên kia suối/ Sương lên mênh mông
Tôi xa người xa tôi từ đây/ Lặng yên dấu xưa còn chân đá cũ/ Còn lời oán than.
Đoạn A
Tôi xa người xa môi rất tham/ Em như gió núi như chim ngàn
Em xa xôi quá làm sao biết/ Tôi âm thầm như cơn mê hoang.
Đoạn A
Tôi xa người xa không hờn oan/ Vười tôi trăng lạnh đến hoang tàn
Nhớ ai buồn ngất trên vai áo/ Mưa ở đâu về như vết thương.
3.
K.Khúc Của Lê, với cấu trúc (A/A/B/B’/A/A) lời ca bổ sung của nhạc sĩ Đăng Khánh ít hơn bài thơ gốc, và viết ở nhịp 4/4 nên dễ phổ biến hơn.
Ta thử phỏng đoán xem sự hình thành “K. Khúc Của Lê” ra sao:
-Cả 3 đoạn nhạc phổ đầu tiên (A/A/B) trên lời thơ hầu như nguyên vẹn, cứ thế lần lượt các đoạn nhạc còn lại (B’/A/A), cảm xúc của ông vẫn được phát triển một cách liền mạch cho đến cuối bài.
-Và lời ca ở 3 đoạn cuối này cũng được ông chắt lọc ngay từ chất liệu sẵn có trong bài thơ cộng với rất ít lời ca bổ sung.
-Vậy chính hồn thơ đã tạo cảm xúc mãnh liệt cho nhạc sĩ Đăng Khánh hoàn thành “K. Khúc Của Lê” trong một thời gian rất ngắn, không chừng chỉ qua một đêm thôi?
-Tôi yêu cả 3 bài thơ phổ nhạc của ông “Em Ngủ Trong Một Mùa Đông”, “Lệ Buồn Nhớ Mi” và “K. Khúc Của Lê” nhưng, nếu hỏi yêu bài nào nhất thì chắc có lẽ không riêng gì tôi mà, nhiều người trong số quý vị cũng sẽ chọn “K. Khúc Của Lê”?.
-K. Khúc Của Lê, của nhạc sĩ Đăng Khánh được xếp vào loại Ca Khúc Nghệ Thuật, chỉ dành riêng cho các chương trình Nhạc Thính Phòng với thành phần dự khán chọn lọc và nghiêm túc.
-Đã nghe “K. Khúc Của Lê” do ca sĩ Tuấn Ngọc thủ diễn rồi thì sau đó, ít có ca sĩ nào dám chạm đến nó.
4.
Chúng tôi đã cố gắng trình bày đầy đủ những chi tiết trên hầu giúp quý độc gỉa khi nghe ca sĩ Tuấn Ngọc trình bày “K. Khúc Của Lê” với bản nhạc phổ của nhạc sĩ Đăng Khánh, sẽ được thưởng thức trọn vẹn hơn với một dòng ca trôi chảy liền mạch, và cũng để thấy được bản lĩnh sáng tạo của ông.
Đề nghị BBT cho quý độc gỉa nghe lại ca sĩ Tuấn Ngọc hát “K. Khúc Của Lê” với lời ca trong phần nhạc phổ của nhạc sĩ Đăng Khánh.
Chân thành cảm ơn. (Chu Trọng Ngư)
(Houston, TX, ngày 9-10-2012) Cuộc triển lãm tranh Du Tử Lê do The Mozart Institute of Music (Truờng Suối Nhạc) được khai mạc trong tiếng thụ-cầm (Harp) của nữ nhạc sĩ Terece Weber và tiếng dương cầm của nhạc truởng Paul English lúc 6 giờ 30 tối Chủ Nhật ngày 7 tháng 10 vừa qua, tại thành phố Houston, Texas.

Mở đầu chương trình, với tư cách người đứng đầu trường Suối Nhạc, nhạc si Đăng Khánh cho biết, năm 1992, Suối Nhạc đa hân hạnh giới thiệu lần đầu tiên thi phẩm Thơ Tình / Love Poem của thi sĩ Du Tử Lê với độc giả Houston. “Và, hôm nay, đúng 20 năm sau, Suối Nhạc lại được hân hạnh giới thiệu lần đầu tiên những họa phẩm của thi sĩ Du Tử Lê sáng tác trong vòng mấy năm qua…”
Sau khi giới thiệu danh tánh của khoảng gần 100 tân khách chọn lọc, (nhiều người đến từ những nơi rất xa), nhạc sĩ Đăng Khánh, tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng, như ca khúc “Lệ Buồn Nhớ Mi” cũng giải thích vắn tắt về thuật ngữ “nghe tranh” của ông, trong chủ đề: “Đọc thơ, sống nhạc, nghe tranh Du Tử Lê“ ?

Ông nói, ngay từ hậu bán thế kỷ thứ 19, nhạc sử thế giới đã ghi nhận rằng, nhạc sĩ – soạn nhạc gia Alexander Scriabin người Nga nổi tiếng thế giới khi ông cho biết, ông nhận ra nhiều vị khác nhau từ mặn ngọt tới chua cay khi ngửi hương thơm của một bông hoa hồng. Cũng như ông nghe được nhiều thanh âm khác nhau, dấy lên từ một bức tranh, khi ông nhìn mầu sắc lại nghe ra âm thanh thánh thót. Sau này y học định ra đó là chứng “synesthesia”, chính nhờ thiên khiếu đặc biệt này ông đã mở ra một cõi nhạc riêng gọi là “atonality”.
Tác giả “Lệ Buồn Nhớ Mi” kết luận:
“Do đó, khi tôi dùng thuật ngữ ‘nghe tranh Du Tử Lê’ thì xin quý vị nhớ cho rằng, tôi không phải là nguời đầu tiên dùng thuật ngữ này…”
Tiếp lời nhạc sĩ Đăng Khánh, nhà thơ Du Tử Lê cho biết, ông sẽ không bao giờ tự nhận ông là một họa sĩ mà ông chỉ là người nỗ lực chuyển thể thi ca của ông qua một kênh nghệ thuật khác. Đó là hội họa.
“Tuy nhiên, nỗ lực nào lúc khởi đầu cũng cần tới sự khuyến khích hỗ trợ của đám đông. Và khởi sự đó, thường đuợc bắt đầu từ bằng hữu. Do đó, quý vị và các bạn chính là những người đầu tiên khuyến khích và hỗ trợ tôi trong nỗ lực này…”

Trước khi kết luận, họ Lê xin lỗi hai nguời bạn thân thiết của ông và cũng là của tất cả các tân khách, để đuợc bày tỏ lòng “tri ngộ” của ông với hai nguời bạn đặc biệt ấy. Đó là nhạc si Đăng Khánh và Phương Hoa, người bạn đời của người nhạc sĩ đa tài này.
Từ một góc độ khác, cựu chủ biên đài VOA, ông Lê Văn mượn lời cố nhà văn Mai Thảo, trong những lần tâm tình riêng với ông, tác giả “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền” từng nhắc nhở ông rằng:
“Đọc kỹ, từng chữ thơ tình của Du Tử Lê, bạn sẽ thấy hắn là một phù thủy ngôn ngữ đấy… ”
Từ nhận xét của bạn văn Mai Thảo, sau nhiều dẫn chứng, cựu chủ biên đài Tiếng Nói Hoa Kỳ kết luận:
“Vì thế, tôi không chút ngạc nhiên khi cảm đuợc cả một thế giới lãng mạn và sâu sắc trong tranh Du Tử Lê…”

Sau khi mời các tân khách thưởng thức 2 ca khúc “Lệ Buồn Nhớ Mi” và “K. Khúc Của Lê” của Nhạc sĩ Đăng Khánh phổ từ thơ Du Tử Lê, được song tấu bởi tiếng thụ cầm của nữ nhạc sĩ Terece Weber và tiếng dương cầm của nhạc trưởng Paul English nhà thơ Tô Thùy Yên, một trong 7 vì sao bắc đẩu của nửa thế kỷ thi ca Việt Nam (theo nhà văn Mai Thảo), khi được mời phát biểu, ông cho biết, có lẽ vì tâm hồn nhà thơ Du Tử Lê chứa chất quá nhiều bức xúc mà thi ca không giúp ông giải tỏa được hết những dồn nén ấy, nên ông đã tìm tới hội họa như một bổ khuyết cần thiết và hữu ích.
Hoạ sĩ Phạm Thông, tác giả của bức tượng Trần Hưng Đạo ở bến Bạch Đằng Saigon, bức tượng duy nhất không bị chế độ CSVN giựt sập cho thấy ông không đồng ý trước sự khiêm tốn của nhà thơ Du Tử Lê, khi họ Lê nhấn mạnh ông chỉ là một người vẽ tài tử. Mà theo ông thì Du Tử Lê là một họa sĩ đích thực của chỉ danh này và, nhất là:
“…Tôi không thấy một ảnh hưởng nào của các hoạ sĩ đi trước, trong tranh Du Tử Lê. Chưa kể tranh ông rất có hồn. Một cảm nhận khó diễn tả. Nhưng lại rất cần thiết cho một tác phẩm nghệ thuật. Chính cái ‘hồn’ đó, mới làm nên giá trị đích thực một tác phẩm…”

Chủ tịch sáng lập hội Văn Hóa Khoa Học Houston, ông Nguyễn Ngọc Bảo, đi xa hơn, sau khi nêu những dẫn chứng đầy tính thuyết phục từ thi ca tới hội họa của Du Tử Lê, ông kết luận:
“Tuy nhà thơ Du Tử Lê cho biết tranh của ông thường nghiêng về trường phái ấn tượng, siêu thực, hoặc phối hợp nhiều trường phái khác nhau, nhưng theo tôi thì đúng hơn cả, ta nên gọi đó là trường phái Du Tử Lê…”
Là diễn giả sau cùng, nhưng nhạc sĩ và cũng là nhà ngôn ngữ học Trần Như Vĩnh Lạc đã gây bất ngờ thích thú cho cử tọa, khi ông chỉ ra rằng, trong thơ cũng như tranh của Du Tử Lê đầy nữ tính, “một biểu lộ can đảm của những thiên tài…”.
Ông nêu ra một số tranh tiêu biểu như các bức “Mùa Em.Thu Tím. Rừng Tôi Phía Nào”, bức “Em Và, Mẹ Và, Tôi Là, Một Nhé” hay bức “Mưa Ở
Đâu Về Như VếtThương” tố chất nữ không chỉ có nổi rõ qua đuờng nét mà còn hiện rõ trong từng sắc độ của các game mầu nữa.
Bà Phương Hoa thay mặt ban tổ chức cho biết, với kết quả cụ thể là 12 trong số 16 bức tranh được trưng bày, (chưa kể bức tranh lớn nhan đề “Tôi MuốnCất Ngôi Nhà Trong Ký Ức” của thi sĩ Du Tử Lê đã được hệ thống nhà hàng Kim Sơn Houston, đặt mua để bán đấu giá gây quỹ vào ngày 16 tháng 12 tới đây), đã đủ nói lên phần nào tài năng hội họa của một người “sẽ không bao giờ tự nhận mình là họa sĩ”: Du Tử Lê.
(Nguyên Nguyễn.)
FOUNTAIN VALLEY (NV) – Kể từ khi lần đầu được nghe bài hát Cánh Hoa Xưa của nhạc sĩ Ðăng Khánh trong một quán café ở Sài Gòn, gần 15 năm sau tôi mới có dịp nghe hầu hết các nhạc phẩm của ông.
|
|
|
Nhạc sĩ Ðăng Khánh và phu nhân Phương Hoa. (Hình: Nhật báo Người Việt) |
Và được nghe tại một không gian âm nhạc của Saigon Performing Art Center vào một buổi chiều Chủ Nhật ở quận Cam.
Ðây là một chương trình nhạc tình đặc biệt giới thiệu 20 ca khúc của nhạc sĩ Ðăng Khánh đến từ Houston, Texas với chủ đề “Sài Gòn Buồn Cho Riêng Ai” qua phần trình diễn của các danh ca Trần Thu Hà, Thu Phương, Bích Vân, Nguyên Khang và Tuấn Ngọc; và MC là nhạc sĩ Vĩnh Lạc.
Phần lớn chương trình âm nhạc được hòa âm phối khí và điều khiển bởi nhạc sĩ trẻ Hoàng Công Luận với sự cộng tác của ban nhạc The Brother Band.
Trong phạm vi bài viết này, tôi không đi làm công việc của những người viết về một chương trình nhạc hay về một ca sĩ, bởi lẽ sẽ có nhiều người làm công việc ấy hoàn hảo hơn tôi. Ở đây, tôi chỉ muốn ghi lại những cảm nhận chủ quan về mối tương quan âm nhạc giữa hai người là linh hồn của chương trình vừa qua: nhạc sĩ viết ca khúc Ðăng Khánh và nhạc sĩ soạn hòa âm phối khí Hoàng Công Luận.
Nhạc sĩ Ðăng Khánh không phải là một người xa lạ với giới âm nhạc ở hải ngoại, kể cả trong nước. Dù con số tác phẩm không nhiều so với tuổi đời và tuổi sáng tác, nhạc của Ðăng Khánh có chỗ đứng riêng. Ðặc biệt với những sáng tác gần đây nhất, cho thấy Ðăng Khánh vẫn là một trong những nhạc sĩ hiếm hoi ở hải ngoại vẫn còn sức sáng tạo rất cao.
Cấu trúc nhạc Ðăng Khánh là cấu trúc không cân phương. Có câu chỉ vài trường canh, và có câu lên đến cả mười ô nhịp. Nhưng nhìn tổng thể thì ca khúc của Ðăng Khánh hoàn toàn không mất cân đối. Bởi vì Ðăng Khánh là một nhạc sĩ đã qua nhiều trường lớp về sáng tác. Ông ý thức được điều mình viết, lại biết tìm tòi, thích học hỏi cầu thị, và nhất là biết khai phá để tìm đến cái thiện mỹ của nghệ thuật. Hơn thế nữa, dù không chủ ý phá cách trong việc phát triển motif âm nhạc mình, âm nhạc của Ðăng Khánh vẫn có những góc, những cạnh riêng để có thể đạt tới mức nghệ thuật cao trong lĩnh vực viết ca khúc.
Giai điệu của Ðăng Khánh thì có khi mềm như một “cánh hoa xưa,” hay nhẹ nhàng như một giọt “lệ buồn nhớ mi,” nhưng có lúc cũng dữ dội, ray rứt như một “biển sầu mênh mông.”
|
|
|
Phần mở đầu bài “Biển Sầu Mênh Mông” của Ðăng Khánh. (trích từwww.dangkhanhmusics.com) |
Sau khi nghe hết 20 ca khúc của ông, khán giả cũng có thể nhận thấy rằng, khác với nhiều nhạc sĩ, Ðăng Khánh biết chắt lọc và tiết kiệm chất liệu âm nhạc. Cách tiến hành giai điệu của ông nghiêng về giai điệu của khí nhạc nên có vẻ như Ðăng Khánh thường dệt lời vào nhạc nhiều hơn các nhạc sĩ khác.
Cũng không lạ, bởi vì như thi sĩ Du Tử Lê đã nói, Ðăng Khánh là một thi sĩ của âm nhạc.
Thật sự, âm nhạc của Ðăng Khánh là âm nhạc của một người trí thức mang một tâm hồn thi ca. Ca từ của ông rất chắt lọc, có khi siêu thực nhưng cũng đôi lúc rất hiện thực.
Nhưng nếu nói đến Ðăng Khánh mà không nhắc đến nhạc sĩ Hoàng Công Luận thì quả là một thiếu sót lớn.
Hoàng Công Luận là bạn tri âm của Ðăng Khánh, mà theo lời ông, hai mái đầu xanh và bạc này đã biết nhau từ hơn một thập niên trước, khi cả hai còn cách xa nhau nửa vòng trái đất.
Hơn một thập niên trước, khi nhạc Ðăng Khánh đã được nghe ở Sài Gòn, thì tài năng hòa âm phối khí của Hoàng Công Luận cũng đã được biết đến ở hải ngoại, nhất là trong giới ca nhạc sĩ.
Và nếu nói Ðăng Khánh là thi sĩ của âm nhạc như Du Tử Lê đã ca tụng, thì Hoàng Công Luận quả thật là một họa sĩ tài hoa của nghệ thuật hòa âm phối khí ở hải ngoại mà chúng ta ít được thấy trong những thập niên gần đây.
Trên toàn bộ các phần hòa âm phối khí trong chương trình vừa qua, người nghe có thể nhận ra ở âm nhạc của Hoàng Công Luận một kiến trúc hòa âm rất chặt chẽ, nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều kích, nhiều cỡ. Cách thức tiến hành hòa âm vừa cổ điển vừa tân kỳ, vừa có tính toán khoa học và vừa logic đến nỗi một người bạn nhạc sĩ Mỹ của tôi khi nghe phải hết lời cảm phục.
Một cách chắc chắn rằng, Hoàng Công Luận đã hiểu sâu sắc những chi tiết về bố cục, giai điệu, tiết tấu, chuyển điệu, và cả ca từ của Ðăng Khánh để có thể tạo được những hiệu quả âm nhạc với hòa âm của mình như thế.
Nói Hoàng Công Luận là chàng họa sĩ tài hoa của âm nhạc Việt Nam cũng không ngoa. Bởi vì anh đã dùng hòa âm của mình để pha những mảng màu cực đẹp lên tấm canvas giai điệu của Ðăng Khánh.
Ở đó, người ta có thể thấy được những mảng màu đậm và nhạt, những nét chấm và phá trong phối khí của anh. Và hơn hẳn thế, ta cũng có thể nhận ra những phá cách hữu ý của người nghệ sĩ tài năng này – những phá cách dường như rất tinh nghịch cho từng nhạc khí, cho từng giai điệu, và cho từng tiết tấu của âm nhạc được phối.
Thật sự, những phá cách đó là sáng tạo. Bởi vì Hoàng Công Luận đã đi vượt ra khỏi những qui luật, những khuôn phép có khi sáo mòn của lối hòa âm phối khí cổ điển.
Hay nói cho cùng, hòa âm phối khí của Hoàng Công Luận có nhiều cá tính.
Cái cá tính riêng đó đã dẫn dắt cho người nghe đi từ bờ vực của sự ngạc nhiên này đến bến bờ của sự thú vị khác qua từng ca khúc của Ðăng Khánh. Hoàng Công Luận phối “Ðừng Gọi Tên Em Nữa” đã lạ lùng, mà phối tango cho bài “Niềm Nhớ Thương” lại càng tuyệt hảo. Ðến độ, có ai đó trong chương trình đã gọi anh là một Ástor Piazzolla của người Việt!
|
|
|
Nhạc sĩ Hoàng Công Luận. (Hình: www.hoangcongluan.com) |
Thật không sai để ghi nhận rằng hòa âm của nhạc sĩ Hoàng Công Luận thật sự là chất xúc tác làm thăng hoa âm nhạc của Ðăng Khánh trong chương trình vừa qua. Hay nói một cách khác, nếu âm nhạc của Ðăng Khánh đã đẹp theo chiều ngang, thì phần phối khí của Hoàng Công Luận đã làm cho âm nhạc của ông càng thêm mỹ miều theo chiều dọc.
Cái đẹp ngang-dọc tương đồng và xoắn xít ấy trong âm nhạc của cả hai nhạc sĩ Ðăng Khánh và Hoàng Công Luận chính là nhân tố làm cho chương trình “Sài Gòn Buồn Cho Riêng Ai” trở nên một chương trình có giá trị nghệ thuật cao về mặt âm nhạc, mà chúng ta hiếm được có tại hải ngoại.





You must be logged in to post a comment.