Đăng Khánh – Giấc Mơ Âm Nhạc từ Những Rung Động của Tâm Hồn – Trường Kỳ
Bài Viết Bốn Phương
Nhạc Đăng Khánh
Posted on 25/04/2012
Tôi thích nhạc Đăng Khánh từ cách đây gần chục năm. Hồi còn sinh viên, lần đầu tiên tôi được lắng nghe “K khúc của Lê” trong một quán café nằm khuất sau lưng KTX Bách Khoa. Quán nhỏ khiêm tốn và thường vắng khách nhưng café đen pha hợp gu và chuyên mở nhạc xưa chọn lọc. Quán hay mở Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Thái Thanh, Duy Trác… toàn những tên tuổi gạo cội của âm nhạc hải ngoại.
Những giai điệu phổ thơ buồn buồn, day dứt, có khi như là những tiếng thở dài heo hút… vang lên trong một không gian im ắng làm người nghe như được chìm đắm trong một không gian mộng tưởng, hoài niệm…
Nhạc của ông hình như không bao giờ thích hợp ở những chốn ồn ào náo nhiệt, nên chỉ cần một khoảng không gian nho nhỏ, yên ắng là đủ để những thanh âm nhẹ nhàng của Đăng Khánh tràn ngập hồn người…
Một vài video nhạc Đăng Khánh:
K. Khúc của Lê (thơ Du Tử Lê, nhạc Đăng Khánh, Tuấn Ngọc trình bày)
Tôi xa người xa môi rất tham
Em như gió núi như chim ngàn
Em xa xôi quá làm sao biết
Tôi âm thầm như cơn mê hoang
Tôi xa người xa không hờn oan
Vườn tôi trăng lạnh đến hoang tàn
Nhớ ai buồn ngất trên vai áo
Mưa ở đâu về Như vết thương
Em ngủ trong một mùa đông (thơ Du Tử Lê, nhạc Đăng Khánh, La Sương Sương trình bày)
Lệ buồn nhớ mi (thơ Du Tử Lê, nhạc Đăng Khánh, Tuấn Ngọc trình bày)
Trăm năm đã thẹn
biển sóng vực sâu
bầy chim thương tích
buồn khăn áo người
Trăm năm vẫn đợi
môi nhớ tàn phai
bàn chân nhớ đất
lệ buồn nhớ mi
Hạt mưa bay cuối đời (nhạc Đăng Khánh, Tuấn Ngọc trình bày)
(03/30/2012)
Tác giả : Nguyên Giác
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn suy nghĩ thế nào về Thiền trong âm nhạc của ông? Và ca khúc nào được nhạc sĩ tự xem có thể gọi là nhạc Thiền?
Nhạc sĩ Hoàng Công Luận kể lại, rằng trong một buổi chiều nói chuyện với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, “Đã được nghe anh Trịnh Công Sơn nói rằng ca khúc Đóa Hoa Vô Thường gần với nhạc Thiền nhất.”
Lúc đó nhạc sĩ Hoàng Công Luận vẫn còn ở quê nhà, và vẫn chưa có cơ hội như hiện nay: đi nhiều nơi và nghe nhiều dòng nhạc trên thế giới, và đã học xong Cao Học Nhạc Phim tại UCLA, nơi Hoàng Công Luận có cơ duyên học viết nhạc phim và trở thành học trò xuất sắc của hai nhà soạn nhạc phim và truyền hình nổi tiếng của Mỹ Robert Drasnin và Craig Stuart Garfinkle.
Hoàng Công Luận kể rằng anh không chỉ có cơ duyên với nhạc từ thơ ấu — được cha dạy đàn mandolin từ 6 tuổi, học violin từ 7 tuổi, rồi trốn bố để học guitar… đã tốt nghiệp Cao Học Violin ở VN, rồi Cao Học Nhạc Phim ở UCLA – mà còn có cơ duyên với sinh hoạt từ thiện Phật Giáo: từ khi sang Mỹ du học năm 2006, anh đã hàng năm ngồi đàn piano giúp gây quỹ từ thiện cho Tăng Thân Xóm Dừa, và buổi gây quỹ vào Thứ Sáu 4-5-2012 sẽ là năm thứ 6 anh đàn như thế.
Khi được hỏi về một kỷ niệm về âm nhạc thời còn ở VN, nhạc sĩ Hoàng Công Luận trầm ngâm, rằng có nhiều lắm. Trong đó, anh nhớ nhất là một lần tới thăm nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khoảng 2 hay 3 năm trước khi họ Trịnh từ trần, được nghe Trịnh Công Sơn hát một bài đang soạn, có tên là Muôn Trùng Biển Khơi, hình như bây giờ vẫn chưa ra công chúng. Luận kể rằng, “Anh Sơn lúc đó không có đàn guitar, chỉ mới có tứ về nhạc, nên ghi chép xuống mặt trong bao thuốc lá… Luận so với âm điệu do anh Sơn hát, thấy có nốt nhạc sai, có nói với anh Sơn, và đã giúp viết ký âm bản này cho anh Sơn…”
Nhưng Hoàng Công Luận cũng nói thêm rằng, việc viết đúng ký âm chỉ là việc của thư ký, chứ còn sáng tác quan trọng nhất chính là ý, là tứ, là tư duy, là điệu nhạc… thì nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhất định là độc đáo, riêng biệt.
Hoàng Công Luận kể rằng khi học viết nhạc phim ở UCLA, có một kỷ niệm rằng thầy bảo phải học đủ thứ nhạc như jazz, rock, vân vân… Và rồi thầy tắt hết nhạc, yêu cầu sinh viên nhắm mắt lại… bấy giờ mới thấy rằng tai vẫn nghe những tiếng động chung quanh, tiếng sột soạt chạy của con chuột, con dán… lúc đó tác động hơn là những gì mình nhìn qua mắt.
Nhạc sĩ Hoàng Công Luận (phải) và nhà văn Nhã Ca.
Hoàng Công Luận tự nhìn nhận rằng có 2 nhạc sĩ ảnh hưởng tới tâm hồn của anh: nhạc sĩ Lê Cao Phan, tác giả ca khúc Phật Giáo Việt Nam, là ông của Luận; và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, người mà Luận có nhiều cơ duyên thân cận.
Theo chương trình được phổ biến, vào Thứ Sáu, 4 tháng 5,2012, lúc 7 giờ tối, tăng thân Xóm Dừa sẽ tổ chức buổi Nhạc thính phòng, tại trung tâm Sangha, số 7641 Talbert Ave., Huntington Beach, CA 92648. Tăng thân Xóm Dừa sẽ sửa soạn và mời quý khách ăn bữa chiều nhẹ (finger foods) từ 6.00pm tới 6.30pm.
Hai ca sĩ nổi danh Trần Thu Hà và Thu Phương sẽ trình bày rất nhiều ca khúc của các nhạc sĩ tiền chiến và đương thời như Phạm Duy, Cung Tiến, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Trần Quang Lộc, Trần Tiến, v.v…
Đây là buổi Văn nghệ gây quỹ hàng năm mà tăng thân Xóm Dừa vẫn thường tổ chức để góp vào quỹ điều hành các lớp vườn trẻ, mẫu giáo tại vùng quê tỉnh Khánh Hòa; cấp phát học bổng cho trẻ nghèo hiếu học, từ bậc tiểu, trung tới đại học tại Lâm Đồng và Saigon. Các tăng thân và thân hữu của Xóm Dừa tại Việt Nam đảm trách việc điều hành các quỹ này, thường xuyên vẫn gửi tin tức và hình ảnh của các học snh qua cho tăng thân Xóm Dừa, và một số bạn từ Mỹ cũng lâu lâu về thăm các trường lớp do Xóm Dừa bảo trợ.
Quý vị có thể gọi điện thoại giữ chỗ để lấy vé tại các số: (714) 891-8579 (Kim Dung) – (714) 975-6864 (Quyên Đỗ) – (714) 583-8160 (Phương Mai) và (714) 374-7230 (Ngọc Tần). Ba loại vé có số ghế từ 50$ tới 100$ đã bán gần hết, xin mời quý vị gọi ngay để lấy vé, không bị lỡ đêm nhạc đặc biệt năm nay
Đặc biệt đệm nhạc dương cầm sẽ do nhạc sĩ Hoàng Công Luận, người nổi tiếng trong giới nghệ thuật với vai trò nhà soạn nhạc, nhạc sĩ vĩ cầm, nhạc sĩ dương cầm, nhạc trưởng.
Hoàng Công Luận trong vị trí nhạc trưởng.
Sinh trưởng trong một gia đình âm nhạc mà thân phụ là nhạc sĩ Hoàng Song Nhy ở Việt Nam, có anh là nhạc sĩ Hoàng Việt Khanh ở Hoa Kỳ.Hoàng Công Luận bắt đầu học nhạc và violin lúc mới 6 tuổi và bắt đầu trình tấu lúc lên 8.Do có năng khiếu rất đặc biệt về âm nhạc,nhất là khả năng nghe được các âm chuẩn (perfect pitch), Hoàng Công Luận được nhận vào học ở nhạc viện Sài Gòn về vĩ cầm.Trong lúc còn đi học,với vai trò trưởng ban và là nhạc sĩ hòa âm phối khí,Hoàng Công Luận đã thành lập ban nhạc riêng chuyên chơi nhạc Pop và Rock ở Sài Gòn.Anh cũng tham gia vào dàn nhạc giao hưởng Saigon City Symphony Orchestra trong gần 10 năm theo học tại nhạc viện.Hoàng Công Luận tốt nghiệp cao học hạng ưu môn vĩ cầm.Sau một thời gian làm việc tại studio thu âm riêng của mình ở Sài Gòn, với lòng đam mê sáng tác nhạc cho phim ảnh và các dàn nhạc lớn, được sự giúp đỡ của gia đình, Hoàng Công Luận đã sang Hoa Kỳ để học viết nhạc phim vào năm 2006 tại trường đại học University of California, Los Angeles (UCLA). Anh đã trở thành học trò xuất sắc của hai nhà soạn nhạc phim và truyền hình nổi tiếng của Mỹ: Robert Drasnin và Craig Stuart Garfinkle. Có thể nói, Hoàng Công Luận là một trong một số ít nhạc sĩ Việt Nam được đào tạo về viết nhạc phim một cách bài bản.
Hoàng Công Luận đã sáng tác một số ca khúc và tác phẩm khí nhạc cho dàn nhạc lớn. Anh cũng đã đi trình diễn ở nhiều nơi trong nước và tại Hoa Kỳ. Hoàng Công Luận cũng từng xuất hiện trên các sân khấu âm nhạc lớn và nhỏ của hải ngoại như Paris by Night, Hát cho Tình Yêu của Ritz Entertainment, Tình Ca Muôn Thưở của VOVN (Houston), và cả sân khấu nhỏ như Hát Cho Bé Nghèo của Tăng thân Xóm Dừa, hay Olivia Bistro ở Fullerton.
Cùng với việc sáng tác và trình diễn, Hoàng Công Luận vẫn tiếp tục công việc hòa âm phối khí nhiều ca khúc cho một số nhạc sĩ và các ca sĩ nổi tiếng Việt Nam như Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Khánh Ly, Trần Thu Hà, Thu Phương, Quang Dũng, Ý Lan, và Ngọc Anh, v.v…
Hiện Hoàng Công Luận còn là người quản lý nhà hàng Olivia Bistro (www.phoolivia.com) tại thành phố Fullerton thuộc quận Cam. Ở đó, thỉnh thoảng vào mỗi cuối tuần, anh tham gia trình diễn với một số nhạc sĩ Mỹ.
Muốn biết thêm về Hoàng Công Luận và một số tác phẩm của anh, quí độc giả có thể viếng trang nhà :www.lacnam.com
Nguyên Giác
Quê hương ngạo nghễ
“Ðường Việt Nam ôi vô cùng vô tận!” Ðó là câu đầu một bài hát thời rất trẻ. Nguyễn Ðức Quang kể đã đặt bài ca Ðường Việt Nam trong lúc đang đi, trên con đường từ Ðà Lạt xuống Sài Gòn.
Ði một mình, vừa ngắm cảnh núi đồi, làng mạc, vừa hát lên từng câu, sửa, chọn từng tiếng, cho đến khi hoàn thành ca khúc, trên chiếc xe đạp cũ, chiếc xe đi học không phải loại xe leo núi. Vừa đi vừa hát, gọi đúng tên là du ca. “Ði dựng lấy thiên đường! Giống da vàng này là vua đấu tranh!” Bài hát kết thúc như vậy.
Với tốc độ đạp xe của một thanh niên 16, 17 tuổi, chuyến đi chắc phải kéo dài 15 hay 20 tiếng đồng hồ. Ðến khi hát những câu sau cùng này, chắc chàng nhạc sĩ đã thở hào hển, đẫm mồ hôi. Nhưng vẫn nhất định đi dựng lấy thiên đường. Vẫn tự nhận giống dân mình là vua đấu tranh!
Câu chuyện này là tiêu biểu cho nguồn cảm hứng và lối sáng tác của Nguyễn Ðức Quang. Cảm hứng đến trong khi Quang đang sống. Sống thật, sống khỏe mạnh. Sống hết mình và sống cùng với núi sông đất nước, sống giữa bè bạn, quê hương, đồng bào. Sống và sáng tác, đối với Nguyễn Ðức Quang, tuy hai mà một.
Năm 1964 Nguyễn Ðức Quang hát bài “Tôi trót sinh ra làm thân nhược tiểu…” Một người bạn tôi nghe rồi phê bình: Tại sao lại nói “trót sinh ra”? Phải hãnh diện được sinh ra làm người Việt Nam chứ? Nhưng Nguyễn Ðức Quang không phải là một nhạc sĩ “lên gân.” Không tự kiểm duyệt. Không sáng tác theo một lập trường, quan điểm, hay chủ trương giai đoạn nào cả. Không ai được chọn nơi mình sinh ra. Người nghệ sĩ ý thức thân phận một người Việt Nam, một thanh niên lớn lên trong một quốc gia đã bị các cường quốc bắt tay nhau đem cắt đôi, để phân chia ảnh hưởng. Và ý thức số phận đồng bào mình đang giết nhau, quê hương bị chiến tranh đang tàn phá. Ý thức như vậy, nhưng không để thở than, trách móc. Vì cuối cùng, mỗi người sinh ra ở nước Việt Nam đều hãnh diện “chọn nơi này làm quê hương.” Một lựa chọn có ý thức. Rồi ngẩng đầu lên hát “Việt Nam Quê hương ngạo nghễ!” Bây giờ các thanh niên người Việt ở khắp nơi vẫn còn vỗ tay mà hát: “Ta như nước dâng, dâng chẳng có bao giờ tàn! Ðường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang!”
Thế hệ thanh niên lớn lên ở các thành phố trong miền Nam Việt Nam trong thập niên 1960 đều chia sẻ tâm trạng “thân nhược tiểu” này. Một dân tộc vừa giành được độc lập đã bị cắt đôi, kẹp giữa hai khối tư bản và cộng sản. Và đang được hai khối đó đưa cho khí giới giết lẫn nhau, nhân danh những chủ nghĩa, những thiên đường! Trong khung cảnh đó có hai phản ứng khác nhau.
Nhiều người chỉ thở than, tuyệt vọng, hoặc tìm lãng quên. Nguyễn Ðức Quang có một tâm hồn tích cực, vẫn tìm thấy con đường sống lạc quan, yêu đời. Một phần có thể vì từ thuở nhỏ Quang đã thuộc điều luật thứ 8: Hướng đạo sinh gặp nỗi khó khăn vẫn vui tươi! Nhưng không phải chỉ có thế. Toàn thể con người Nguyễn Ðức Quang ngập đầy sức sống; không còn chỗ nào cho những tình cảm tiêu cực chen vào.
Sống trong cảnh “Xương sống ta đã oằn xuống” Nguyễn Ðức Quang không chịu thua, không buông xuôi, không ủ rũ tìm nguồn vui trong mơ mộng siêu hình. Vì bản chất Quang rất mạnh. Tâm hồn Quang tràn đầy nam tính, nam tính chiếm hết chỗ rồi, không còn chỗ chứa những trạng thái u sầu, ủy mị nữa. Ngay cả khi viết một điệu hát buồn, như khi nhớ đến những “đàn bé em biến đâu rồi, này bé sao không đùa chơi,” thì Nguyễn Ðức Quang vẫn mở đầu bài ca bằng ánh sáng tin tưởng: “Trời sáng tươi đã lên rồi! Trời sáng tươi trong lòng tôi!” Bởi vì “Cặp mắt sâu sau đêm dài, tìm quanh đây một ngày vui!”
Một điều may mắn là con người với bản chất tích cực như Quang lại gặp được một môi trường đúng với bản chất tích cực lạc quan để phát triển dòng nhạc của mình.
Ðúng khi Quang bước vào tuổi 20 thì xã hội miền Nam đang thay đổi. Từ năm 1964, một phong trào thanh niên nổi lên ở các thành phố, họ rủ nhau đi làm công tác giúp đồng bào. Ðặc biệt là những đồng bào ở nông thôn và những nạn nhân chiến tranh. Giúp ích, một khẩu hiệu của Hướng Ðạo, không phải là một hiện tượng mới. Ngay trong những năm 1950, mỗi lần có đám cháy lớn ở Sài Gòn là người ta thấy từng đoàn hướng đạo mặc đồng phục đến tiếp tay các anh “lính cứu hỏa” và giúp đỡ các nạn nhân. Sau đó, các đoàn hướng đạo và học sinh đi xây dựng lại nhà cho các nạn nhân; vật liệu và dụng cụ do bộ Xã Hội cung cấp. Những “công tác xã hội” tự nguyện đó là hình thức cộng tác giữa nhà nước và xã hội công dân, gồm các tổ chức tư hoàn toàn tự nguyện.
Kể từ năm 1964, một phong trào thanh niên bột phát. Người ta thành lập các hội đoàn, đặc biệt là trong giới trẻ, và đặc biệt với mục đích giúp ích. Bắt đầu từ những tổ chức thanh niên trong tôn giáo; rồi tới các hội tự nguyện của học sinh, giáo chức và sinh viên. Rồi những thanh niên thuộc nhiều hội gặp gỡ nhau lập ra từng chương trình chung, như “Liên hội công tác nông thôn.”
Khi bão năm Thìn đánh vào miền Trung vào cuối năm 1964, các hội cùng nhau tổ chức chương trình “Cứu Lụt,” đưa học sinh, sinh viên ra các tỉnh từ Bình Ðịnh ra Quảng Nam. Chính quyền lúc đó là cụ Phan Khắc Sửu, bộ Xã Hội do Bác Sĩ Phan Quang Ðán cầm đầu, họ tiếp các sinh viên, nghe trình bày dự án, rồi tận tâm giúp đỡ mà không đặt một điều kiện nào cả. Không cần bộ máy chính quyền thúc đẩy hay “hướng dẫn,” các thanh niên đi tìm cơ hội phục vụ đồng bào. Những sinh hoạt thanh niên này cần những điệu ca tập thể mới.
Nguyễn Ðức Quang đã trở thành tiếng hát của phong trào này. “Người thanh niên Việt Nam quay về với xóm làng, tiếng reo vui rộn trong lòng!… Cùng đi biến ruộng hoang ra lúa thơm!.. Ta đắp bồi cho mẹ cha.”
Rồi tới Chương Trình Hè 65, một tổ chức quy mô trên tất cả 40 tỉnh toàn quốc. Với hàng chục hội đoàn tham dự, huynh trưởng phần lớn là các giáo sư, họ huy động hàng chục ngàn học sinh đi giúp ích. Tất cả mọi người tham dự đều tự nguyện, không ai được thù lao, không ai bị ép buộc. Hoàn toàn đứng ngoài chính quyền, không thuộc một khuynh hướng chiến tranh hay tôn giáo nào (nhưng vẫn bị chính quyền ngầm theo dõi). Chưa bao giờ có một phong trào thanh niên tự nguyện, vô vị lợi, phi chính phủ hoạt động với quy mô lớn như vậy; và khi kết thúc chương trình thì giải tán.
Sang năm 1996, Bộ Giáo Dục đã tiếp tục nuôi dưỡng phong trào này với Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Học Ðường (viết tắt CPS). Ngoài việc huấn luyện tính khí và phương pháp tổ chức công việc, một mục tiêu chính của các sinh hoạt thanh niên này, là huấn luyện lối sống dân chủ tự do cho thanh thiếu niên. Ðó chính là một phương pháp xây dựng nền tảng cho một xã hội công dân, mà bất cứ quốc gia tự do dân chủ nào cũng cần phát triển.
Chính khi dấn thân trong môi trường những công tác thanh niên tự nguyện đó, Nguyễn Ðức Quang đã có cảm hứng viết những bài ca tập thể mà chúng ta đang hát hôm nay. Khi Quang hát “những nhát cuốc…” thì thật sự Quang đã đi cuốc đất hay sống giữa đám bạn bè đang cuốc đất. Trong khi đổ mồ hôi tại trại công tác tên là “Công trường Cam Lộ” kéo dài mấy tháng ở Quảng Trị Nguyễn Ðức Quang đã hát “Ðường về công trường là đường vào quê hương.” Trong khung cảnh tự do phục vụ đó, người thanh niên yêu đời, tự yêu mình, và yêu đồng bào. Họ ngẩng đầu lên hát Việt Nam Quê hương Ngạo nghễ!
Khi các bạn thanh niên sau này hát lại những ca khúc của Nguyễn Ðức Quang, xin các bạn hãy nhớ những thế hệ đàn anh trong thời gian 1965 đã hát những bài hát đó trong khi đi xây dựng quê hương bằng bàn tay của mình. Hoàn toàn tự nguyện. Hoàn toàn tự do. Không vì lợi, không vì danh, không nhắm đến quyền hành chính trị. Những bài ca của Nguyễn Ðức Quang là tiếng nói của thế hệ thanh niên đó. Ước chi, đó cũng là tiếng nói của các thế hệ thanh niên Việt Nam bây giờ và mai sau. Chúng ta sẽ cùng nhau hát mãi:Việt Nam Quê hương Ngạo nghễ!





You must be logged in to post a comment.