
Phần 1
Phần 2

Phần 1
Phần 2

Phần 1
Phần 2
(Bài nói chuyện trong “Đêm Du Tử Lê – Hoa Thịnh-Đốn – 12 tháng 5-2000)
“Anh Mai Thảo có lần vừa cười vừa bảo tôi bằng một giọng điệu rất Mai Thảo rằng: ‘thơ tình của hắn như thế mới là thơ tình chứ! Tình nó cứ cắn nhau từ tháng chạp mà đến tháng hai nó vẫn còn bầm thì mới là ghê chứ!'”
Thưa qúy vị, trong khi phê bình hay đánh giá một nhà thơ, ít có ai dám khẳng định rằng thơ của ông này hoặc của bà nọ là hay nhất, là vượt trội nhất so với tất cả các nhà thơ khác. Nói như vậy là đại ngôn, là cường điệu và chắc chắn sẽ bị rất nhiều người bắt bẻ. Biết thế nhưng tôi vẫn dám nói mà không sợ sai lầm rằng Du Tử Lê ít ra cũng có một cái nhất so với tất cả các thi sĩ khác, đó là thơ của Lê được người ta phổ nhạc nhiều nhất.
Vâng, nếu qúy vị có lúc nào rảnh rỗi ngồi đếm thử con số những bài thơ được phổ nhạc của tất cả các thi sĩ từ trước tới bây giờ, rồi đem so sánh với nhau, như tôi đã có lúc lẩn thẩn làm chuyện đó, thì qúy vị sẽ thấy đúng như tôi vừa nói. Những thi sĩ lớn của chúng ta từ thời tiền chiến như Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, qua đến thời chiến tranh như Quang Dũng, Hoàng Cầm, Hữu Loan ở ngoài Bắc, Vũ Hữu Định, Phan Lạc Tuyên, Trần Dạ Từ, Nhã Ca ở trong Nam cho tới những người làm thơ hôm nay ở hải ngoại như Luân Hoán, Ngu Yên, Hồ Minh Dũng, Lê Thị Thấm Vân, mỗi người đều làm ra rất nhiều bài thơ hay, mà đâu có mấy bài được phổ thành ca khúc?
Trác tuyệt như Tản Đà, theo chỗ tôi biết, chỉ có 1 bài “Tống Biệt” được Võ Đức Thu phổ nhạc. Lẫy lừng như Vũ Hoàng Chương, với cả mấy trăm bài bất hủ mà không thấy có bài nào được biến thành ca khúc phổ thông, ngoại trừ bài “Hoàng Hạc Lâu”, (thơ dịch) do Cung Tiến phổ nhạc. Thắm thiết như Nguyễn Bính cũng chỉ có dăm ba bài được nhiều người biết đến như “Cô Hái Mơ” hay “Trăng Sáng Vườn Chè”. Những thi sĩ thuộc các trường phái thơ mới hay thơ tự do như Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên… thì tương đối có nhiều bài thơ được phổ nhạc hơn, nhưng nhiều thì cũng chỉ đến con số vài ba chục bài là hết.
Riêng Du Tử Lê thì phải nói là một hiện tượng lạ lùng. Số lượng thơ phổ nhạc của Lê, theo như tác giả cho tôi biết ít ra cũng phải 300 trăm bài. Một mình Trần Duy Đức thôi đã phổ nhạc cũng phải tới 20 bài thơ của Lê rồi. Song Ngọc cho tới năm ngoái đã phổ nhạc được trên 30 bài. Khang Thụy ở Việt Nam, cũng trên 30 bài… Nữ nhạc sĩ Tâm Khanh, hiện ở Florida, cũng đã phổ trên 20 bài…. Hầu như tất cả các nhạc sĩ danh tiếng như Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Nguyễn Hiền, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Anh Bằng, Việt Dzũng, Đăng Khánh, Anh Việt, Trầm Tử Thiêng, vân vân đều có rất nhiều những bản nhạc được bắt nguồn cảm hứng từ thơ Du Tử Lê.
Vậy thì yếu tố nào đã khiến cho thơ Du Tử Lê được phổ thành ca khúc nhiều đến như vậy? Tôi đã thử tìm tòi phân tích theo những tiêu chuẩn khách quan như ý thơ, tứ thơ, hơi thơ, hình ảnh thơ, cấu trúc của bài thơ, để xem thơ Du Tử Lê có những thành tố nào độc đáo không tìm thấy được nơi các nhà thơ khác, khiến cho các nhạc sĩ phải đặc biệt chiếu cố đến thơ anh.
Nhưng tôi thấy câu trả lời nào cũng không ổn. Thí dụ: phải chăng là vì những hình ảnh trong thơ Du Tử Lê cô đọng và xúc tích hơn người? Thế bộ những hình ảnh trong thơ Vũ Hoàng Chương mà không cô đọng và xúc tích à? Hay là vì thơ tình của Du Tử Lê gợi được nhiều xúc động mãnh liệt trong lòng người? Thế nhưng thơ tình của Đinh Hùng cũng gây được những xúc động mãnh liệt không kém nếu không muốn nói là hơn. Vậy mà ngoài bài “Mộng Dưới Hoa”, bạn có thể đếm cho tôi được bao nhiêu bài thơ khác của Đinh Hùng được người ta phổ nhạc? Nếu có, tôi chắc cũng chỉ là ở trên đầu ngón tay.
Phân tích những yếu tố khách quan không đủ, tôi bèn đi tìm hiểu ý kiến chủ quan của các nhạc sĩ xem tại sao họ lại đua nhau phổ thơ Du Tử Lê thật nhiều mà các thi sĩ khác thì tương đối ít. Và bởi thế, mỗi khi có dịp gặp gỡ nói chuyện với họ tôi đều hỏi họ điều này.
Tôi nhớ trước đây khoảng 15 năm, Phạm Đình Chương từ Cali sang miền Đông chơi với bạn bè. Chúng tôi tụ họp lại để đàn hát. Phạm Đình Chương nói:
“Moa vừa phổ nhạc được 1 bài thơ của Du Tử Lê. Thú lắm, để moa hát cho mà nghe.”
Anh ngồi vào piano, đã định hát nhưng trông thấy Quỳnh Giao có mặt ở đó, anh bèn gọi Quỳnh Giao đến và đưa cho cô bản nhạc chép tay của anh. Quỳnh Giao vốn là cô giáo dạy nhạc nên chỉ nhẩm qua một chút là hát được liền, và cô hát rất hay. Đó là bài “Đêm, Nhớ Trăng Saigon”.
Nghe hát xong, tôi bèn hỏi:
“Sao bạn lại lựa chọn nhiều bài thơ của Du Tử Lê để phổ nhạc như vậy? Thơ Du Tử Lê có cái gì hấp dẫn bạn hơn là thơ của người khác không?”
Câu hỏi bất chợt khiến Phạm Đình Chương hơi bỡ ngỡ. Hình như anh chưa bao giờ suy nghĩ về chuyện đó cả nên anh trả lời:
“Moa cũng chẳng biết tại sao. Moa chỉ tình cờ đọc được bài ‘Đêm, Nhớ Trăng Saigon’, moa thấy những hình ảnh gợi lên trong đó tuy bình dị mộc mạc nhưng nó cứ bám riết lấy tâm tư của mình như một nỗi ám ảnh, rứt ra không được:
Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
Nắng Trương Minh Giảng, lá hè Tự Do
Nhớ nghĩa trang: quê bạn bè
Nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường.
“Mấy cái chữ ‘buồn se bụi đường’ nó làm moa chịu không nổi. Nó cứ bám sát lấy mình cả trong giấc ngủ, nó bắt moa phải phổ thành nhạc điệu. Ừ thì ngồi dậy phổ nhạc cho nó xong đi để còn đi ngủ chứ.”
Và anh viết xong bản nhạc chỉ trong vòng 1 tiếng đồng hồ.
Những nhạc sĩ khác mà tôi phỏng vấn đều cho biết đại khái như vậy. Có người cảm thông được với ý thơ Du Tử Lê tới mức coi những xúc động trong thơ Lê chính là xúc động của mình, và từ đó việc chuyển biến thơ thành nhạc chỉ là việc hết sức tự nhiên. Đó là trường hợp Trần Duy Đức khi anh phổ nhạc bài “Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi”. Câu chuyện về một người con gái trở về VN, sống trong một dòng tu đã khiến Lê xúc động đến cao độ và viết thành những câu thơ như những lời kinh cầu:
Hãy hỏi Chúa đi rồi em sẽ hay
Tôi buồn như phố cũ như tay
Bàn chân từng ngón ngưng không thở
Lạc mất đường đi tạnh dấu bày
Hãy hỏi nắng đi rồi em sẽ hay
Tôi gầy như lá. Lá như mây
Rừng khuya thổi rớt bao tâm sự
Thiên đàng tôi là người hay ai?
Và Trần duy Đức đã thổi nhạc điệu vào những lời thơ đó, cho nó bay bổng lên thành một tác phẩm mới, với những rung động tưởng chừng như của chính mình.
Có nhạc sĩ thì thích thú vì tìm thấy được những nỗi niềm riêng tư của họ qua thơ Du Tử Lê, chẳng khác gì như tác giả nói hộ cho họ vậy. Một thí dụ điển hình là bài “Giữ Đời Cho Nhau”. Bọn đàn ông chúng ta có mấy ai mà chẳng thầm kín mang ơn một người con gái đã tận tụy hy sinh cho mình, đã vớt đời mình lên những lúc mà cuộc đời của mình tưởng như rách nát nhất, chìm đắm nhất. Nhưng mà muốn nói lời cảm tạ cho tha thiết thì còn gì hơn là:
Ơn em thơ dại từ trời
Theo ta xuống biển vớt đời ta trôi
Ơn em dáng mỏng mưa vời
Theo ta lên núi về đồi yêu thương.
Và bởi vậy chúng ta không ngạc nhiên khi thấy có tới 2 nhạc sĩ nổi danh là Phạm Duy và Từ Công Phụng đã không hẹn nhau mà cùng phổ nhạc một bài này.
Lại có những nhạc sĩ khác nói với tôi rằng họ bị quyến rũ bởi ngôn ngữ thơ rất tân kỳ, rất táo bạo của Du Tử Lê, nhất là trong những bài thơ tình.
Em về trên chiếu chăn tôi
Mùi hương tháng 9, nụ cười cuối năm
Xót nhau bật máu chỗ nằm
Vết răng tháng chạp dấu bằm tháng 2
Anh Mai Thảo có lần vừa cười vừa bảo với tôi bằng một giọng điệu rất là Mai Thảo rằng “thơ tình của hắn như thế mới là thơ tình chứ! Tình nó cắn nhau từ tháng chạp mà đến mãi tháng hai nó vẫn còn bầm thì mới là ghê gớm chứ!”
Và nhạc sĩ Trần Quan Long, người chuyên sáng tác những bản hùng ca đấu tranh chống cộng, dường như cũng bị thôi miên bởi ngôn ngữ sắc nhọn lạ lùng của Lê đến độ không cưỡng được, phải phổ nhạc vào bài thơ rất tình này:
Em về thăm thẳm núi non
Hồn sông lòng suối thịt xương chốn nào
Mai quên nhau mất lời chào
Hôm nay chăn gối vẫn ngào ngạt hương
Em về trong một đêm sương
Có tôi thất chí ngồi thương bóng còi
Da người dấu cắn răng tôi
Đó em giây phút mở đời đã ghi.
Tuy nhiên, tất cả các nhạc sĩ mà tôi từng có dịp nói chuyện đều cho tôi biết rằng mặc dầu họ đã đọc rất nhiều bài thơ hay của rất nhiều thi sĩ khác nhau, nhưng không phải hễ cứ bài thơ nào làm cho họ thích thú hay cảm động là họ có thể phổ được thành ca khúc. Nó còn phải hội đủ một số điều kiện nào đó nữa.
Trước hết nó phải đừng tạo ra những trở ngại quá lớn cho việc chuyển biến thơ thành nhạc. Chẳng hạn, nếu bài thơ đã có 1 khuôn khổ, một cấu trúc cứng ngắc như kiểu thất ngôn bát cú của Đường thi, thì dù có hay cách mấy người nhạc sĩ cũng không muốn đụng tới nữa. Khó uốn quá à! Uốn thì sẽ gẫy. Phổ nhạc vào thơ thất ngôn bát cú thì tôi mới chỉ thấy có 1 mình ông Cung Tiến dám phổ bài “Hoàng Hạc Lâu” thơ dịch của Vũ Hoàng Chương
Nếu thế thì thơ tự do không có khuôn khổ niêm luật hay vần điệu gì cả là dễ phổ nhạc nhất ư? Chưa chắc ạ. Chính vì nó dài ngắn khác nhau mông lung như vậy nên khó mà bao gồm hết ý thơ vào khuôn khổ của 1 ca khúc phổ thông hiện đại, với 1 số trường canh và nhịp điệu cố định như ta thường thấy. Bởi vậy mà Thanh Tâm Tuyền, người dẫn đầu phong trào thơ tự do cũng chỉ có chừng dăm ba bài thuộc loại này được phổ thành ca khúc, kiểu như “Dạ Tâm Khúc” hay “Đêm Màu Hồng”.
Ngoài ra, nếu bài thơ đã có những vần bằng vần trắc tạo thành nhạc điệu riêng của nó rồi, và cái nhạc điệu đó lại chính là đặc điểm của bài thơ, thì người nhạc sĩ cũng không muốn uốn nắn nó thành một nhạc điệu nào khác nữa. Thí dụ Phạm Đình Chương bảo anh rất thích bài “Tây Tiến” của Quang Dũng nhưng không hề cảm thấy muốn phổ nhạc bài này, bởi vì nhũng câu thơ bằng trắc xen lẫn với nhau đã hoà hợp đến mức tuyệt hảo. Tự bài thơ đã là bài hát rồi còn gì. Phổ nhạc vào chỉ làm hỏng bài thơ đi.
Đăng Khánh là 1 trong những người mà, theo ý tôi, phổ nhạc thơ Du Tử Lê thành công nhất, nghĩa là hợp nhất, ý thơ và điệu nhạc quyện vào với nhau một cách bay bướm, không gượng ép, không làm biến tính bài thơ đi. Đăng Khánh bảo tôi: “Đó là vì thơ của Lê tự nội dung của nó đã vô cùng hấp dẫn và đồng thời nó lại có những đoạn trùng hợp rất tình cờ, rất tự nhiên với những thành tố của một bản nhạc mới”.
Em ngủ trong mùa Đông
Cánh đồng tôi nước ròng
Nhớ gì chăn gối cũ
Em về qua bến sông
Em ngủ trong rừng cây
Mà lòng tôi rất đầy
Mùa hè sao rực rỡ
Hàng cây xanh lá gầy
Hơi thơ 5 chữ đang trôi chảy đều đều như một nhạc điệu mineur, nhẹ nhàng kể lể chuyện thần tiên Nàng Công Chúa Ngủ — Trong Rừng. Bỗng nhiên cảm xúc ào ạt dâng lên như nước vỡ bờ:
Thôi hết rồi xin giã từ suối tóc cơn mưa
Em có về? Xa cách rồi mùa thu còn đó
Em sẽ về? Em có còn ngực thơm môi úa
Vẫn tháng giêng xưa và vẫn đợi chờ
Đoạn nhạc chuyển tiếp từ Ré mineur sang Ré majeur thật là sảng khoái biết bao nhiêu mà cũng vẫn tự nhiên hoà hợp với dòng thơ.
Và qua tất cả những câu trả lời của các nhạc sĩ, tôi đi đến kết luận rằng cái yếu tố thiết yếu, bắt buộc phải có để họ phổ nhạc một bài thơ là hoặc ý thơ, hoặc hình ảnh thơ, hoặc ngôn ngữ thơ phải làm cho họ cảm động. Nhưng cảm động không thôi chưa đủ. Nó còn phải gợi được ở tâm hồn họ cái hứng nhạc. Phải có hứng thì mới biến thơ thành nhạc được.
Mai Thảo trong những năm cuối của cuộc đời làm thơ rất hay. Phạm Đình Chương chơi thân với Mai Thảo hơn ai hết và chắc chắn là rất yêu thơ Mai Thảo, rất xúc động vì những bài thơ đó, thế nhưng anh đã không phổ nhạc một bài nào. Tại sao vậy? Tại vì thơ Mai Thảo tuy gây xúc động nhưng không gợi được hứng nhạc để anh biến nó thành ca khúc. Trái lại, thơ Du Tử Lê có tiềm ẩn một nhạc tính rất dồi dào phong phú, nhưng lại uyển chuyển nhẹ nhàng, khiến cho người nhạc sĩ đọc lên là đã thấy rộn ràng cảm hứng để viết thành nhạc điệu.
Cổ nhân có lẽ gọi đó là thi trung hữu nhạc, nhưng tôi thì tôi nói một cách nôm na là cái hứng nhạc trong thơ Du Tử Lê vậy.
(Washington D.C May 2000)
Yêu Dấu,
Dường như mỗi ngày, nỗi biệt ly, lòng nhớ thương lại mang đến cho tôi một khuôn mặt khác. Biệt ly và lòng nhớ thương, như khí hậu, như thời tiết. Những tháng ngày xa nhau, không chỉ cho tôi khí hậu bốn mùa, vòng quay trái đất. Những giờ phút mất nhau, không chỉ cho tôi đìu hiu nắng gió, mà, Yêu Dấu, dường như biệt ly và, nhớ thương, còn cho tôi một thứ khí hậu, một loại thời tiết chưa từng ; và, sẽ không hề có, nơi hành tinh này.
Yêu Dấu,
Tôi muốn gọi đó là nhan sắc lầm than của vầng trăng tình yêu, cửa khác.
Đĩa nhạc “K. Khúc Của Lê 3” đã mở đầu bằng một lời dẫn như thế. Lần lượt, “Yêu Dấu” sẽ có dịp song hành cùng những “con ve sầu mùa hè”, “cánh bướm cổ tích”, “con ngài tội nghiệp không ngày mai”, “con bò nhai lại quá khứ”, “con chim vỡ ngực không thấy được tim mình”… để đưa người nghe đến với từng ca khúc, như, hơn ba mươi năm trước, “bầy sẻ cũ hom hem” và “con dế buồn, tự tử giữa đêm sương” đã được âm nhạc Từ Công Phụng dẫn dắt từ cõi thơ Du Tử Lê đến với người thưởng ngoạn.
Liên tiếp trong ba năm 2000, 2001, 2002, hai mươi chín ca khúc, trích từ hơn ba trăm ca khúc phổ thơ Du Tử Lê đã lần lượt được giới thiệu trong các đĩa nhạc “K. Khúc Của Lê” 1, 2 … 3. “Khúc Ca Riêng Của Chàng”, như thế, đã có nhiều người cùng góp tiếng hát, để, từ chốn riêng của Lê, đem trải rộng ra cả cõi nhân gian (ở chỗ có thể cảm thông) này. Vậy trong “K. Khúc Của Lê 3”, niềm riêng nào đã được thi sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ gửi đến chúng ta? Có phải đó là trăng, nhưng không còn là vầng trăng tình yêu, mà chỉ là mảnh trăng xứ lạ, nhẫn nại dõi theo chiếc bóng đơn cuả nhà thơ đằng đẵng suốt ba năm trời, để một đêm vỡ oà, đổ dài trên dòng lục bát :
Đêm về, theo bánh xe lăn,
Tôi-trăng viễn xứ, hồn thanh niên vàng,
Tìm tôi, đèn thắp hai hàng,
Lạc nhau cuối phố, sương quàng cổ cây…
Có phải đó là “mưa Thị Nghè”, “nắng Trương Minh Giảng”, là nỗi nhớ về một không gian xa, xưa, đã được nhạc sĩ Phạm Đình Chương đẩy đến những nốt cao buốt xoáy với “nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường”? Ca khúc “Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn”, sáng tác năm 1983, có thể xem là ca khúc được phổ biến rộng rãi nhất kể từ sau năm 1975 của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Các tiếng hát Thái Thanh, Lệ Thu, Ý Lan, Vũ Khanh, Phạm Thành, Lê Hồng Quang… , và ở đây, tiếng tơ vàng Quỳnh Giao, đã ghi khắc những hình ảnh “tôi-xa lộ”, “nhà-Hàng Xanh”, “nghĩa trang-quê hương bạn bè”… đậm dấu trong lòng người thưởng thức.
Dường như, giữa thơ Du Tử Lê và nhạc Phạm Đình Chương đã có một gắn bó định mệnh. Bản nhạc cuối cùng nhạc sĩ Phạm Đình Chương để lại cho đời, “Quê Hương Là Người Đó”, phổ từ một bài thơ cùng tên của Du Tử Lê, và bản nhạc đầu tiên ông sáng tác sau khi định cư ở Hoa Kỳ, năm 1982, có tên “Khi Tôi Chết, Hãy Đem Tôi Ra Biển”, cũng phổ từ một bài thơ cùng tên của thi sĩ họ Lê, viết trước đó bốn năm. Nhạc điệu chậm buồn, đều đặn tuôn chảy theo những câu thơ tám chữ, tựa một tiếng thở dài não nuột:
Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển,
Đời lưu vong không cả một ngôi mồ,
Vùi đất lạ, thịt xương không tan biến,
Hồn không đi, sao trở lại quê nhà?
Quê-nhà ở đâu? Bên kia biển, bên kia trời là quê hương tôi đó! Người làm thơ, người đặt nhạc, trong những ngày đầu ngơ ngác nơi xứ lạ, có chung một niềm đau, một nỗi nhớ. Và biển, biên giới mênh mông, cắt đứt đường bay của chim, cũng là lối thoát, để hồn theo xác lênh đênh tìm về đất mẹ. Trong đĩa nhạc “K. Khúc Của Lê 3”, tiếng hát ray rứt, đôi chỗ nghẹn ngào của Anh Khoa ở đoạn chuyển nhạc cuối bài như tan nhoà vào tiếng sóng, lịm tắt trong lòng biển thẳm:
Khi tôi chết, nỗi buồn kia cũng hết,
Đời lưu vong tận tuyệt với hồn tôi…
Ở “Người Về Như Bụi”, phổ từ “Một Bài Thơ Nhỏ”, là tâm cảnh khác, giữa một thời gian khác. Sáng tác tại Sài Gòn, bài thơ được đăng trên báo Văn năm 1967, được nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo phổ nhạc năm 1969, nhưng mãi mười lăm năm sau mới được thu âm tại Hoa Kỳ và được giới thiệu trong album “Tịnh Tâm Khúc”. Cùng với các tiếng hát Hải Lý, Khánh Ly, Thái Hiền, Mai Hương trong album này, trên nền nhạc khúc khi chậm rền lúc thánh thót, giọng nữ cao trong suốt của Kim Tước đã phác hoạ lại một chân dung, Huyền Châu, mà trước đó đã thấp thoáng ẩn hiện trong “Trên Ngọn Tình Sầu”:
Người về, sương động chập chùng,
Tả tơi phấn hương,
Người về trong gương
Thấy mình mất tích,
Người về, tang thương…
Cũng tại Sài Gòn, để đánh dấu một mối tình, hai bài thơ “Như Xa Miền Yên Vui” và “Khi Tưởng Tới Người Vắng Mặt” lần lượt được nhà thơ Du Tử Lê sáng tác trong hai năm 1972, 1973 và được hai nhạc sĩ Phạm Duy, Trần Duy Đức phổ nhạc ngay khi ấy. Sau đó ít lâu, “Như Xa Miền Yên Vui” được Duy Quang thu âm vào băng nhựa, như đã từng thu âm hai tình khúc “Kiếp Sau, Xin Giữ Lại Đời Cho Nhau” và “Tình Sầu” (đều cùng thơ Du Tử Lê, nhạc Phạm Duy). Nhạc phẩm “Khi Tưởng Tới Người Vắng Mặt” không được cái may mắn đó. Hơn mười năm sau khi ra đời, 1985, lần đầu tiên bài hát được thu âm qua tiếng hát Hải Lý trong băng nhựa cùng tên, do nhà thơ Nguyên Sa phát hành. Bốn năm sau, 1989, đến lượt Khánh Ly. Với đĩa nhạc “K. Khúc Của Lê 3”, những rung động từ hai ca khúc trên, qua các giọng nam trung trữ tình đầu thế kỷ hai mươi mốt của Đinh Ngọc và Trần Thái Hoà, vẫn giữ nguyên vẻ tươi mới. Hãy nghe Đinh Ngọc nhắc:
Hỡi Nhỏ rất buồn, buồn như con sông,
Buồn như chiếc lá những đêm mưa sầu,
Buồn như cái kiến, buồn như bướm,
Bướm ốm o, và Nhỏ cũng ốm o…
Hãy nghe Trần Thái Hòa than thở:
Rồi em bỏ tôi đi
Trong một buổi sáng Sài Gòn đầy lá
Hay em bỏ tôi đi
Trong một buổi chiều nắng ăn lốm đốm da em…
Để nhớ về một mối tình thơ dại, một khuôn dáng thân yêu giữa phố xá Sài Gòn, ngày ấy, hay có khi, quá khứ, chỉ là mới hôm qua…
Từ ca khúc “Khi Tưởng Tới Người Vắng Mặt”, tình bạn bền đậm của người thơ và người nhạc đã tìm được khởi điểm để đâm rễ, nảy chồi, kết quả. Giữa những hoa trái tươi đẹp của cây đời ấy, phải kể đến đĩa nhạc “Em Hiểu Vì Đâu Chim Gọi Nhau” (1989) gồm mười ca khúc Trần Duy Đức phổ từ thơ Du Tử Lê và được trình bày qua các giọng hát nổi tiếng: Khánh Ly, Lệ Thu, Lê Uyên, Anh Ngọc, Tuấn Ngọc, cùng với phần hoà âm của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng. Ngoài ca khúc “Khi Tưởng Tới Người Vắng Mặt” đã nói đến, “K. Khúc Của Lê 3” cũng giới thiệu lại hai nhạc phẩm “Em Hiểu Vì Đâu Chim Gọi Nhau” và “Nhớ Lại Trong Đêm Nay” trong đĩa nhạc đầu tay này của nhạc sĩ Trần Duy Đức. Trong bài thơ “Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu”, khi nhắc về một cuộc tình nhiều trắc trở, lắm dị nghị, Du Tử Lê đã viết :
Ở chỗ nhân gian không thể hiểu,
Em còn nắng gió tới mai sau?
Thấy nhau mà lệ không sao chảy,
Riêng máu còn sôi phút nghẹn ngào…
Khi soạn thành tình khúc “Em Hiểu Vì Đâu Chim Gọi Nhau”, nhạc sĩ Trần Duy Đức đã để giọng ca tráng kiện của Anh Ngọc thay lời nhà thơ, cất tiếng khẳng định ở phần kết:
Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
Tôi với Người chung một trái tim.
“Nhớ Lại Trong Đêm Nay”, 1979, là một trong những bài thơ đầu tiên của Du Tử Lê viết trên xứ người, sau này được in lại trong tập “Thơ Tình / Love Poems” (1985). Nhịp luân vũ trong ca khúc cùng tên đã hôn phối trọn vẹn với bài thơ năm chữ đoạn vui đoạn buồn của dòng phim hồi ức:
Nhớ lại trong đêm nay
Từ ngôi trường thơ ấu
Nhớ mặt từng ông thầy
Nhớ chỗ ngồi cuối lớp…
…
Nhớ lại trong đêm nay
Nửa đời qua thoáng chốc
Bạn bè như lá cây
Rụng giữa mùa rất biếc…
Đong đưa theo nhịp Í, ở cuối bài, chất giọng khàn nhưng chắc nịch của Lê Uyên vụt dướn cao, mãnh liệt đầy cảm xúc:
Nhớ lại trong đêm nay
Cả trăm điều muốn khóc,
Còn ta trong Việt Nam,
Tiếc gì dòng máu cuối…
Lại cũng là một lời khẳng định: dù sống chết tha phương ở đâu đi chăng nữa, thì trong tâm, thân, quê hương, nguồn cội vẫn mãi mãi còn đó, Việt Nam. Bài hát thứ tư và thứ chín trong đĩa nhạc “K. Khúc Của Lê 3” là hai tình khúc tương phản. Nếu xem “Thu Hồng” như một ngày nắng hanh lãng đãng thì phải gọi “Hạt Mưa Bay
Cuối Đời” là một đêm mưa giông nặng hạt, hai mặt sấp ngửa, trắng-đen của cùng một thứ cảm xúc: tình yêu đôi lứa.
Dựa theo ý thơ “Bài Thu Hồng Tháng Tám”, nhạc sĩ Phan Nguyên Anh đã dùng nhịp luân vũ chậm, boston, nhịp điệu của những tình nhân, để phổ thành ca khúc “Thu Hồng”, và tiếng hát nũng nịu, trong sáng trẻ thơ của Diễm Liên đã thả từng sợi tơ nhạc vào giữa trời thu bát ngát:
Và tháng Tám, dòng sông về rất lạ,
Mùa Thu-tôi, em thả tóc đi qua,
Rụng xuống mãi để lòng tôi u buồn,
Chiều quê người, từng phiến lá thiết tha…
Ở “Thu Hồng” là những câu nhạc mênh mang, với các nốt cuối câu níu dài, mở rộng. Ở “Hạt Mưa Bay Cuối Đời”, ngược lại, là từng ngắt đoạn ba chữ, với hai nốt nối tiếp cùng cao độ, tạo khắc khoải, hoang mang, thống hối. Trích từ đĩa nhạc “Dù Nghìn Năm Qua Đi” (2000) gồm mười tình khúc Đăng Khánh, tiếng hát Tuấn Ngọc và hoà âm Duy Cường, ca khúc đầy kịch tính “Hạt Mưa Bay Cuối Đời” kết hợp thành công nhạc điệu, âm thanh và tiếng hát để kể cho người nghe về một mối tình tuyệt vời nhưng tuyệt vọng:
Này em ơi! Người yêu ơi!
Từ trong tôi, thịt da tôi,
Hạt mưa bay cuối đời.
Và mai sau, nụ hôn xưa, son chưa bạc màu,
Nhớ nhau, đêm không qua mau…
Khi kể đến những nhạc sĩ có nhiều gắn bó với thơ Du Tử Lê, như Từ Công Phụng, Phạm Đình Chương, Trần Duy Đức… , người ta sẽ nhắc thêm tên Đăng Khánh. Thật vậy, ngoài “Hạt Mưa Bay Cuối Đời”, trong đĩa nhạc đầu tay “Em Ngủ Trong Một Mùa Đông” (1994), nhạc sĩ ĐăngKhánh cũng đã giới thiệu đến người yêu nhạc hai ca khúc trữ tình, phổ từ thơ Du Tử Lê: “K. Khúc Của Lê” và “Em Ngủ Trong Một Mùa Đông” qua các tiếng hát Tuấn Ngọc, Ý Lan và VũKhanh. Sau tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương, năm 2001, nhà thơ Du Tử Lê ra mắt tập thơ “Vì Em, Tôi Đã Làm Sa Di”, đánh dấu một khuynh hướng sáng tác khác: tình yêu tôn giáo. Nhưng, điểm đặc biệt trong thơ của ông là không có sự phân biệt rạch ròi, mà những thứ tình yêu kia tan lẫn vào nhau, cộng sinh để cùng cộng hưởng, tạo rung động cao độ.
Bài thơ tám chữ sáu đoạn “Người Nhón Gót: Thả Vầng Trăng Thứ Nhất” sáng tác tại Úc năm 2000 có những câu:
Chào Quán Thế (riêng tôi)! – Rừng chánh niệm
Cây từ bi từng ngọn. Lá trăm năm
Người nhón gót: cúi nhìn nhân thế, gió
Thấy tôi không? – Tội nghiệp một linh hồn?
Ở đoạn đầu, từ những câu thơ bị chẻ đôi bởi các hình ảnh hoặc ý tương phản:
Chào tinh khiết! // -Giữa chiều/ tôi/ xế bóng
Như tấm lòng thao thiết // cũng gieo neo.
Người nhón gót: // nghe mưa về đáy vực
Buồn tôi sâu, hút, // tựa nhớ, thương, nào.
Một nhóm bạn ở Paris đã cùng sáng tác nên ca khúc “Nhón Gót”: Nguyễn Linh Quang phổ nhạc, Trần Lê Khang soạn hợp âm và đệm tây ban cầm, Kim Tuấn, Bạch Thảo soạn bè cho song ca và trình bày. “Nhón Gót” với đoạn trưởng, đoạn thứ xen kẽ, khi nhịp 4/4, lúc 3/4, với giọng nữ cao, nam trung và tiếng tây ban cầm solo, ở đôi chỗ đã biến thành một khúc tam tấu, hoà quyện đến không thể tách rời, như minh hoạ cho sự lấp lánh muôn mặt nhưng nhất quán của một tổng thể: nguồn tự sự Du Tử Lê.
Xuất phát từ nền chung: cõi thơ Du Tử Lê, qua phần phổ nhạc của Phạm Đình Chương, Hoàng Quốc Bảo, Phạm Duy, Phan Nguyên Anh, Trần Duy Đức, Nguyễn Linh Quang, Đăng Khánh, với kỹ thuật hoà âm của Duy Cường, Randy Ames, Phan Nguyên Anh, Trần Lê Khang, Trầm Tử Thiêng, Gia Bảo và cách trình bày của Quỳnh Giao, Kim Tước, Đinh Ngọc, Diễm Liên, Trần Thái Hoà, Kim Tuấn, Bạch Thảo, Anh Ngọc, Tuấn Ngọc, Anh Khoa, đĩa nhạc “K. Khúc Của Lê 3” đã trở thành nơi phát tán và cũng là điểm hội tụ của nhiều cảm xúc phong phú, đa dạng, đầy màu sắc. Những dòng nhạc đã dứt, tiếng hát cũng ngừng, nhưng trong tâm tưởng người nghe, hình như vẫn còn âm vang lời dẫn cuối, tưởng như viễn tượng về một chốn hết, thật sự, lại là lời mời gọi của du tử cùng bước đến một tình yêu mới, ở kiếp khác, đời sau:
Yêu Dấu,
Ngày mai, ta chết, chung thân.
Cổ Ngư
CHOISY-LE-ROI 03.2003

Bạn tôi,
Dưới dàn chanh dây của T., với những trái chanh chen chúc, nhấp nhô như những vỉ trứng ngỗng, sơn xanh, treo-ngược-ước-mơ từng mùa, ngắn ngủi một đời người, tôi mới có gần trọn một buổi chiều ngồi với Đinh Anh Dũng. Một đạo diễn rất mực tài hoa, theo tôi.
Tôi không nhớ bao lâu, nhưng có dễ cũng đã trên mười năm, chúng tôi mới lại có được với nhau, một buổi chiều…“chuyện vãn,” như thế.
Chúng tôi thay nhau nhắc lại, những ngày tháng của các năm 1995, 1996, khi trung tâm Diễm Xưa của nữ ca sĩ Thái Xuân chính thức nhờ họ Đinh bắt tay vào việc quay những thước phim đầu tiên cho bộ video “ Du Tử Lê, Giữ Đời Cho Nhau.”
Hành trình của cuộc…“giữ đời” này khá lênh đênh với những ý tưởng, những đòi hỏi nghệ thuật, thể hiện thành hình ảnh của Đinh Anh Dũng! Chúng tôi trải qua nhiều ngày, tháng, nhiều nơi chốn, với nhiều tình thân gần như khắp nước Mỹ. Riêng Dũng, còn là những ngày lặn lội từ nam ra bắc, thu hình những tài liệu mà, Dũng nghĩ sẽ mang thêm giá trị về cho bộ phim.
Tôi nhớ, Đinh Anh Dũng ra tận Quảng Trị, mang theo người mẫu và đoàn quay phim tới nhà thờ La Vang, để thu hình ngôi nhà thờ bị đổ nát một phần trong chiến tranh, làm background cho ca khúc “Trong tay thánh nữ có đời tôi,” nhạc Trần Duy Đức. Dũng cũng tìm đến Bến Chương Dương, tìm hiểu cội nguồn bài thơ sau này trở thành ca khúc “Trên ngọn tình sầu”…
Chúng tôi nói chuyện với nhau về những ngày tháng cũ. Mới đó mà, đã như…cổ tích!

Dũng nhắc lại những ngày chúng tôi thu hình ở Virginia.
Thời gian đó, nhạc sĩ Huỳnh Thái Bình và, chị Huỳnh Oanh còn là “khổ chủ” của những bữa cơm, những ly café, những buổi họp mặt văn nghệ nơi căn nhà vững chắn, như một lô cốt ngạo nghễ giữa rừng thông. Họ cũng là những “diễn viên” từng xuất hiện trong bộ phim. Bây giờ mỗi người bạn của chúng tôi, đã chọn cho mình, một đời sống khác. Cả tôi lẫn Đinh Anh Dũng, không thể đoán biết ai, hiện là chủ ngôi biệt thự giữa…rừng sâu kia.
Dũng hỏi thăm về những người bạn của tôi ở Falls Chruch, như Đinh Cường, Nguyễn Thế Toàn, Lê Thiệp…
Dũng nhắc lại những ngày chúng tôi thu hình ở Houston, Texas.
Thời gian đó, bạn tôi Trọng Kim / Trương Trọng Trác còn ngồi trên lầu hai, khu phố đường Melrose, bề bộn tài liệu, hình ảnh lưu trữ cho những “trận đánh” báo chí, mỗi hai tuần một lần…Bây giờ, bạn tôi đã ra người thiên cổ!
Houston, của tôi và Đinh Anh Dũng những ngày thực hiện chương trình “giữ đời cho nhau…” chỉ còn Đăng Khánh, Nguyên Bích, Lê Văn Hào, Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Đức Tuệ…(Cao Đông Khánh đã cùng cơn say của anh, về chân trời khác.)
Tác giả “Em ngủ trong một mùa đông” cũng di chuyển tới một ngôi nhà mới.
Ngôi nhà cũ của Đăng Khánh / Phương Hoa ở đường Kirlwood, không còn. Ngôi nhà ấy, đã thuộc về người khác.
Tôi không hỏi lai lịch chủ mới của căn nhà từng diễn ra không biết bao nhiêu cuộc họp mặt. Nơi đằm thắm của bao nhiêu tiếng hát, thương yêu. Bao cuộc triển lãm tranh bằng hữu… Tôi không hỏi, vì tôi biết, đó không phải là mối bận tâm của chủ nhân mới. Mối quan hoài nếu có, thuộc về chúng tôi.
Nơi cố nhà văn Mai Thảo chọn ở, gần như tất cả những lần ông viếng thăm Houston. Tất cả những lần ông tới thành phố tình thân này, để thu tiền bán báo Văn; hay tham dự những chương trình văn học, nghệ thuật lớn, do Đăng Khánh / Phương Hoa tổ chức.
Đó cũng là ngôi nhà Đinh Anh Dũng và tôi, dừng chân nhiều ngày, trên lộ trình “giữ đời cho nhau” gập ghềnh nắng và, gió. Sa mạc và, hoa cúc. Niềm vui và, nỗi buồn, giữ lại…
Phương Hoa và Đăng Khánh đã xây cất lấy cho họ một ngôi nhà khác. Ngôi nhà tinh khôi. Ngôi nhà hai tầng trong một khu rợp bóng cổ thụ.
Nhưng nơi chốn ấy, sẽ vĩnh viễn không có cơ hội ghi khắc hình bóng (dù mờ nhạt,) của những Phạm Đình Chương, Mai Thảo, Nguyên Sa, Ngọc Dũng, La Sương Sương, Hồ Tấn Phước…và, gần nhất, Trương Trọng Trác.
Họ đã đi xa. (Tựa sự đi xa của Hữu Loan, Hoàng Cầm…ở Việt Nam mà, Đinh Anh Dũng nhắc tới, ngay dưới dàn chanh dây của T., với những trái chanh chen chúc, nhấp nhô như những vỉ trứng ngỗng, sơn xanh, treo-ngược-ước-mơ từng mùa, ngắn ngủi một đời người.)
Rồi, ca sĩ Thái Xuân, người được của nhiều ca, nhạc sĩ công nhận là có một trình độ thẩm âm “siêu quần, bạt chúng,” cũng đã đi xa, cách riêng của mình, sau khi chị quyết định chấm dứt toàn bộ đời sống (vốn một thời lộng lẫy) của trung tâm Diễm Xưa.

DTL và Đinh Anh Dũng trước sân nhà của Từ Công Phụng ở Portland.
Đinh Anh Dũng cũng hỏi tôi về thành phố Seattle. Nơi chúng tôi trải qua những ngày mưa nẫu, ủng trên chiếc cầu dẫn vào khu phố Việt Nam, đường Jackson và, các ngõ hẻm, chốn “tọa lạc” của những thùng rác thương mại to đùng, lênh khênh. Những thùng rác mà tôi từng nghĩ, nếu chẳng may mấy ông Mỹ đen, sau khi “phê,” ngứa mắt thấy “ê kíp” của đạo diễn Đinh Anh Dũng “dàn trận” máy móc, đèn đóm, lỉnh kỉnh cờ quạt…nổi hứng ném tất cả chúng tôi vào thì, vẫn còn…dư chỗ cho vài ba “chiến hữu” nữa!
Tôi nhớ, tôi phải “diễn” nhiều lần, dọc theo một trong những con hẻm nặng mùi kia. Khi ấy, Dũng bắt tôi mặc áo mưa, che dù, dầm chân trong những vũng nước lạnh buốt (không được phép nhăn mặt…) để Dũng đi giật lùi, thu hình vào ống kính, những thước phim “người đi trong mưa gió” này.
Bây giờ, tôi không nhớ những đoạn phim thu ở Seattle, được dùng làm background cho ca khúc nào của bộ phim.
Đinh Anh Dũng hỏi tôi về Võ Thạnh Đông, Phạm Kim, “Ông Thúi Hoắc”…
Chúng tôi cũng nhớ lại những ngày ở Portland, Oregon, nơi chiếc sân, bên hông nhà hàng của người bạn đời Từ Công Phụng. Ở chiếc sân và, trong ngôi nhà cũ ấy, Dũng cũng đã thu và, dùng được gần như trọn vẹn, phần kể lại “sự cố” liên quan tới chuyện ra đời của hai ca khúc “Trên ngọn tình sầu” và, “Giữ đời cho nhau” (tức “Ơn em.”)
Tôi nói, tính tới cuối Tháng Bảy vừa qua, sau khi trải qua bảy hay, tám lần chemo, tình trạng sức khỏe của họ Từ, đã tốt đẹp. Cái bướu trong gan của bạn tôi, nhỏ còn một nửa. Mặc dù trước đấy, tác giả “Bây giờ tháng mấy” đã phải đi một đường “tông đơ” láng o cái đầu…cho nó tiện! Sau khi tóc đã như lá…mùa thu!
Bạn tôi,
Dưới dàn chanh dây của T., với những trái chanh chen chúc, nhấp nhô như những vỉ trứng ngỗng, sơn xanh, treo-ngược-ước-mơ từng mùa, ngắn ngủi một đời người, tôi mới có gần trọn một buổi chiều ngồi với Đinh Anh Dũng. Một đạo diễn rất mực tài hoa, theo tôi.
Tôi hỏi Dũng về ảo thuật gia Trần Thiện, người lãnh công việc làm “hậu kỳ” cho bộ phim.
Tôi dùng chữ “hậu kỳ’ cho sang vậy thôi! Thực ra, công việc của ảo thuật gia Trần Thiện chỉ là dùng máy “gắp chữ bỏ miệng ca sĩ,” để khi bộ video ra đời, sẽ không bị cái cảnh “tiếng hát đi trước, cái miệng đi sau” hay, “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”…
Tôi không biết hiện tại, kỹ thuật ráp tiếng ra sao! Nhưng với đêm “dự khán” vụ “ráp tiếng” tại căn mobile home của Trần Thiện thì, đó là lần đầu tiên chúng tôi hiểu thế nào là edit tiếng nói cho phim.
Tôi nhớ tôi và T. muốn phát điên khi chỉ với một câu nhạc, thí dụ câu “con dế buồn tự tử giữa đêm sương” (trong ca khúc “Trên ngọn tình sầu,” nhạc Từ Công Phụng, Ý Lan hát,) mà chúng tôi phải nghe tới, nghe lui mấy chục lần! Mỗi lần vài ba tiếng!
Thoạt tiên là “Con dế buồn…” “Con dế buồn…” “Con dế buồn…”
Thái Xuân đang make up cho Ý Lan trong cảnh quay bài “Trên Ngọn Tình Sầu”
Chỉ…một con dế đó thôi, chúng tôi nghe không dưới mười lần. Rồi “tự tử…” “tự tử…” “tự tử…” không dưới năm lần. Cuối cùng mới là “giữa đêm sương…” “giữa đêm sương…” “giữa đêm sương…”
Tôi tin, bạn tôi có thể hình dung tính cách “khủng bố trắng” mà, ông edit, Trần Thiện, ông đạo diễn, Đinh Anh Dũng đã hành hạ chúng tôi đến đầu, đến đũa như thế nào!
Tôi nghĩ, vụ làm “hậu kỳ” này, có thể sẽ bớt phần “tai họa”, nếu Trần Thiện không bị thời gian đuổi nà sau lưng và, Đinh Anh Dũng bớt khó tính một chút.
Số là 10 giờ sáng ngày hôm sau, ảo thuật gia của tôi phải ra phi trường bay về Saigòn. Oan nghiệt thay, khi họ Trần càng vội vàng, hấp tấp bao nhiêu thì, cái vụ “gắp chữ… bỏ miệng ca sĩ” của ông càng “nghìn trùng xa cách”(*) bấy nhiêu! Trong khi với họ Đinh thì, chỉ một phân…xa cách thôi,” ông cũng không chịu. Ông ngồi sát bên họ Trần, chỉ, bảo, khắt khe từng ly, từng tí…
Tôi nhớ, mới làm việc được đâu chừng vài tiếng, Trần Thiện kêu đau lưng. Ông lấy cái belt mà những người khuân vác nặng thường đeo để tránh bị cụp xương sống, cột quanh bụng…
Lâu lâu, ông lại đem một tay rời khỏi dàn máy, vỗ vỗ chiếc đai…Sau đấy, ông đổi tay, vỗ vỗ…túi quần.
Tôi quên nói, bạn tôi, đạo diễn Đinh Anh Dũng không chỉ rất mực tài hoa mà, ông còn thuộc loại “cực kỳ” thông minh nữa. Cứ mỗi lần Trần Thiện “phát biểu cảm tưởng” theo cách của ông ta thì, họ Đinh lại chuồi ngay một tờ Dollar “giấy…lớn” cho Trần Thiện.
Tôi chưa một lần hân hạnh được xem Trần Thiện biểu diễn ảo thuật. Nhưng, qua đêm đó, tôi phải thú nhận rằng, quả tôi có tâm phục, khẩu phục ông “David Copperfield Việt Nam” này. Vì mỗi lần được “chi viện” một cách “tự nguyện” như vậy, bao giờ sự “gắp chữ bỏ miệng ca sĩ” của họ Trần, cũng nhậm lẹ…thấy rõ! Và, những tờ “giấy lớn” cũng được “hô biến” một cách rất…Trần Thiện!
Vũ Khanh trong cảnh quay bài “Khúc Thụy Du”
Bạn tôi,
Ngồi với nhau, dưới dàn chanh dây của T., khi nắng chiều đã lùi xa, ăn tới nóc mấy chuồng chim giữa sân, tôi nói với Dũng, những ngày “kinh hoàng” kia với tôi bây giờ, sau mười mấy năm nhìn lại, mới thấy, đó cũng là một trong những kỷ niệm, đáng nhớ.
Dũng nói:
“Đúng vậy. Hạnh phúc / khổ đau chỉ như hai mặt của một đồng xu.”
Dũng cũng kể, trước đây, đôi lần Dũng có gặp Trần Thiện ở Saigòn. “Nhưng khoảng mười năm nay thì, không.”
Tôi nói, mong rằng Trần Thiện chưa đi xa! Dũng gật đầu. Hy vọng.
Nhắc tới kỷ niệm, Dũng hỏi tôi còn nhớ vụ thu ca khúc “Đêm, nhớ trăng Saigòn,” nhạc Phạm Đình Chương? Tôi nói, nhớ chứ!
Tôi nhớ, theo quyết định ban đầu thì, người trình bày ca khúc “Đêm, nhớ trăng Saigòn” là nữ danh ca Thái Thanh. Thái Xuân chọn Thái Thanh vì trung tâm Diễm Xưa đã có trong tay CD Thái Thanh Hải Ngoại, chủ đề: “Đêm, nhớ trăng Saigòn.” Nghĩa là phần audiocó sẵn. Chỉ phải thu hình Thái Thanh hát…nhép. Đinh Anh Dũng đầu tư khá nhiều công sức cho phần background của ca khúc này.
Mặc dù quay trong studio, nhưng Dũng dàn dựng rất công phu. Từ vầng trăng (giả,) rất lớn, tới một khung cửa sổ (cũng giả)…Nơi tôi dừng lại sau cùng: Tì tay thành cửa sổ…Nhìn lên bầu trời…(giả,) với những ngọn nến (thật) bập bùng, cháy sau lưng và, hình ảnh Thái Thanh rực rỡ, điểm xuyết…Như sự hư ảo giữa “điểm” và “diện”. Như sự hòa quyện buồn bã giữa tiếng hát, người hát và, tâm trạng thất lạc tình yêu, thất lạc cuộc đời của một thanh niên, những ngày đầu, tỵ nạn quê người.
Tôi nhớ, tôi phải “diễn” nhiều lần cho tới khi Dũng thật hài lòng. Mặc dù hình ảnh tôi, khi được coi chiếu thử, trước sau chỉ là một cái mặt…đen thui. Tối hù!
Sau đó, không biết vì lý do gì, Producer Thái Xuân của bộ phim, lại chọn Vũ Khanh. Phần audio, dễ thôi. Phòng thu riêng của Diễm Xưa, đã có Derek Phạm, phụ trách. Nhưng phần Dũng và tôi, mới thực vất vả.
Đinh Anh Dũng phải nghĩ một script khác. Tôi phải “diễn” lại, theo script ấy.
Một buổi chiều, giữa lúc đang ăn cơm, thình lình Dũng gọi – – Dũng bắt tôi ra ngay ngã tư đường Westminster và Beach Blvd, thành phố Westminster để đóng…phim!
Dũng giải thích, tuy tôi không hiểu rõ lắm…Đại khái, ánh sáng đang tốt nhất. Trăng (thật) cũng đã lên vừa đủ độ cao trong tính toán của Dũng.
“…Nhưng tất cả mọi thứ, chỉ tốt nhất trong vòng 30 tới 45 phút thôi. Nếu anh không ra ngay, cơ hội sẽ không trở lại…lần thứ hai!”
Tôi buông đũa, không thay quần áo, chỉ khoác thêm chiếc áo lạnh, phóng xe tới…“hiện trường.”
Diễm Liên với đoàn làm phim
Chẳng biết có phải vì còn đói hay, phải “diễn” giữa phố xá, tôi loạng quạng sao đó mà, Dũng bắt tôi đóng đi, đóng lại gần một tiếng đồng hồ trên đoạn đường “ngựa xe như nước” này. Tôi cảm tưởng như xe nào chạy ngang, cũng tò mò nhìn xem chúng tôi đang diễn trò gì! Có người ra vẻ hiểu chuyện, bấm còi inh ỏi…Tựa khích lệ tinh thần mầm non, “tài tử chính!”
Nói nào ngay, khi thu hình cảnh này, tôi được đạo diễn cho hút thuốc…mệt nghỉ. Thỉnh thoảng thuốc tàn, chưa kịp châm điếu khác thì, đạo diễn đã mau mắn nhắc nhở.
Sau này, hỏi ra, tôi mới biết, Dũng muốn thu vào ống kính, màn khói thuốc…mù mịt…Cho thêm phần “ấn tượng.” Nhớ…quê hương!
Bạn tôi,
Dưới dàn chanh dây của T., với những trái chanh chen chúc, nhấp nhô như những vỉ trứng ngỗng, sơn xanh, treo-ngược-ước-mơ từng mùa, ngắn ngủi một đời người, tôi mới có gần trọn một buổi chiều ngồi với Đinh Anh Dũng. Một đạo diễn rất mực tài hoa, theo tôi.
Sau bao nhiêu năm, lần đầu tiên, chúng tôi có lại hàng giờ cùng nghe với nhau một số ca khúc cũ, mới của nhiều nhạc sĩ phổ từ thơ của tôi; như cách đây mười mấy năm, chúng tôi cũng đã có những chiều, những đêm, cùng nghe với nhau như vậy. Đinh Anh Dũng hưng phấn hình dung hai năm nữa, 2012, chúng tôi sẽ cầm trên tay, một cuốn video mới. Dũng gọi đó là “Giữ đời cho nhau” # 2. Nghệ thuật. Mới.
Tôi nói, hy vọng ngày đó, tôi còn sống!
Dũng tỏ dấu ngạc nhiên. Có dễ vì tôi cố tình không kể với Dũng, kết quả Cat scan mới nhất cho thấy, trong phổi của tôi, xuất hiện một cái bướu. Các bác sĩ Vũ Khải, Lê Trần Hoàng hy vọng cái bướu này không phải là dấu hiệu của ung thư tái phát. Tuy nhiên, có thể họ sẽ vẫn muốn tôi phải làm thêm một Cat scan nữa. Riêng cho phổi.
Hoàng Nam trong cảnh quay bài “K.Khúc của Lê” nhạc Đăng Khánh
Bạn tôi,
Gần đây, tôi rất ít muốn nói về bệnh tình của mình. Với tôi, kể từ sau cuộc giải phẫu ung thư bởi bác sĩ Lê Tâm, mỗi ngày được sống thêm với tôi là một bonus. Một tặng phẩm quý báu mà, Thượng Đế đã ưu ái dành cho tôi, bên cạnh những ưu ái khác cũng từ Đấng Một này.
Tắt một lời, tôi bằng lòng, với từng buổi sáng, mở mắt, thấy mình còn sống. Tôi cũng bắt đầu mỉm cười và, thấy thương hại cho những kẻ bịa đặt, phao tin, phủ nhận, vu cáo, tỵ hiềm một cách ấu trĩ về tôi.
Bạn tôi,
Gần đây, tôi cũng bắt đầu tìm được cho mình, cái hạnh-phúc-của-vật-bị-lãng-quên. Thứ hạnh phúc như mẩu nến trên bàn, trong đêm. Khi nó chỉ còn rớt, sót chút thịt, da thừa thãi. Chờ cháy nốt.
Bạn tôi,
Buổi chiều, khi nắng đã đi hết chiều dọc sân sau, lúc anh Long tới đón Dũng, để chuẩn bị đi rước Bamby và Jerry ở Disneyland; đứng nán vài phút với nhau trên lề, Dũng chỉ ngôi nhà bên kia đường, kể anh Long nghe, mười ba năm trước, nơi mảnh vườn hoang, bên hàng rào đổ nát, Dũng đã thu hình Đinh Ngọc, với ca khúc “Hiến chương yêu,” nhạc Nguyên Bích; cùng một người mẫu và, những bông hoa dại, dưới chân tường. Đó là một trong những thước phim cuối cùng của bộ video “Giữ đời cho nhau,” 1997.
Tôi nói, căn nhà xưa, không còn nữa. Đinh Ngọc đã bỏ Cali về Việt Nam, sống tiếp phần tuổi trẻ của mình. Người con gái đóng cặp với Đinh Ngọc, đã ra trường. Cô cũng đã có cho cô, đời sống khác.
Tôi muốn nói với Dũng, định mệnh không có thói quen dành một vé tầu vào tương lai, cho những người già như tôi. Mặc dù, tôi cũng biết, sẽ còn rất nhiều chuyến xe tốc hành đem họ, những người trẻ (như Đinh Ngọc,) tới những chân trời, mới.
Tôi không nói. Tôi muốn im lặng. Trở vào. Ngồi xuống. Một mình. Dưới dàn chanh dây. Qua kẽ lá, tôi sẽ thấy được bóng tối bập bùng, gió nổi.
Du Tử Lê,
(Aug. 8 2010.)
(*): Nhan đề một ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy.
You must be logged in to post a comment.